Ba phần tư số cư dân Châu Á - Thái Bình Dương nghĩ rằng nữ giới có thể cầu hôn nam giới

Ba phần tư số cư dân Châu Á - Thái Bình Dương nghĩ rằng nữ giới có thể cầu hôn nam giới
qua

Nghiên cứu mới cũng chỉ ra rằng một phần hai số người trả lời khảo sát tin rằng nhẫn đính hôn cần có giá bằng tối thiểu một tháng lương

Điều gì tạo nên lời cầu hôn hoàn hảo? Nghiên cứu mới nhất của công ty nghiên cứu trực tuyến hàng đầu thế giới YouGov cho thấy Châu Á - Thái Bình Dương vẫn vững vàng duy trì những đặc điểm truyền thống. Tuy nhiên, mặc dù có nhiều người thích theo truyền thống nhưng cũng có nhiều người trong khu vực ủng hộ những chuẩn mực mới xuất hiện.

Một phần hai số người Úc nói rằng giới nào cầu hôn cũng được

Trên toàn Châu Á - Thái Bình Dương, hai phần ba (66%) số người trả lời khảo sát tin rằng nam giới nên cầu hôn nữ giới mặc dù tỷ lệ này có sự khác biệt rất lớn ở các quốc gia khác nhau. Niềm tin này phổ biến nhất ở Indonesia (86%), Thái Lan (78%) và Philippines (76%). Trái lại, người Úc tỏ ra thoải mái nhất; một phần hai số người được khảo sát (50%) nói rằng việc người nam hay người nữ cầu hôn không quan trọng.


Mặc dù đa số người trả lời khảo sát thích nam giới cầu hôn hơn nhưng ba phần tư (74%) số người được hỏi nói rằng có thể chấp nhận việc phụ nữ cầu hôn nam giới. Điều này cho thấy có sự linh hoạt mặc dù sự kỳ vọng được giữ ở mức cao.

Kim cương vẫn là lựa chọn phổ biến nhất cho nhẫn đính hôn

Người tiêu dùng cũng mong chờ một chiếc nhẫn đính hôn, với gần chín phần mười (88%) số người tham gia khảo sát coi nhẫn là một trong những yếu tố cốt lõi của lời cầu hôn hoàn hảo. Điều này vượt xa các yếu tố truyền thống khác về mức độ quan trọng; một phần hai số người được khảo sát (54%) coi hoa là quan trọng, trong khi chỉ có một phần ba (36%) coi việc người nam quỳ một chân là quan trọng.

Về việc chiếc đính hôn cần có gì, gần một phần hai tổng số người trả lời khảo sát (46%) chọn kim cương, trong khi vàng vàng là lựa chọn kim loại phổ biến nhất với tỷ lệ 37% số người được khảo sát. Tuy nhiên, vàng vàng có vẻ là lựa chọn kém thời trang hơn theo quan điểm của thế hệ trẻ; có 41% số người trên 45 tuổi yêu thích kim loại này nhưng chỉ có 33% số người từ 16 đến 29 tuổi có chung sở thích. Thế hệ trẻ thích bạc nhiều gấp hai lần so với các thế hệ lớn tuổi hơn với 15% số người trong độ tuổi 16-29 chọn nhưng chỉ có 7% số người trên 45 tuổi chọn. Bạch kim cũng khá phổ biến với người tiêu dùng trẻ tuổi (15%) nhưng một lần nữa lại ít được người tiêu dùng trên 55 tuổi yêu thích (10%).

Nhưng sự hoang phí nằm ở mức giá và một phần hai (52%) số người được khảo sát tin rằng nhẫn đính hôn cần có giá bằng tối thiểu một tháng lương. Người tiêu dùng Trung Quốc, Thái Lan và Philippines chi tiêu mạnh tay nhất với các tỷ lệ (lần lượt) là 38%, 23% và 20% số người trả lời khảo sát muốn tiêu trên ba tháng lương cho chiếc nhẫn đính hôn.


Việc hỏi xin phép cha của cô dâu trước khi đính hôn có ý nghĩa quan trọng với giới trẻ hơn so với cha mẹ của họ

Một truyền thống lâu đời khác là xin lời chúc phúc của cha cô dâu trước khi đính hôn. Trên toàn khu vực này, 85% mọi người vẫn tin rằng điều này có ý nghĩa quan trọng. Tỷ lệ này đạt mức rất cao 96% ở Indonesia, 94% ở Thái Lan và 94% ở Việt Nam. Tuy nhiên, gần một phần ba (38%) số người Úc, một phần tư (25%) số người Hồng Kông và một phần năm (19%) số người Singapore tin rằng việc hỏi xin phép cha cô dâu trước khi đính hôn không phải là điều quan trọng.

Và có vẻ là điều này quan trọng với cặp bạn trẻ hơn là với các bậc phụ huynh: trong khi một phần mười số người trong độ tuổi 16-29 (9%) nghĩ rằng việc hỏi xin phép cha của cô dâu không quan trọng thì tỷ lệ này ở những người trên 45 tuổi là một phần năm (19%).

Trái với suy nghĩ thông thường, đối với vấn đề đính hôn, có vẻ thế hệ trẻ mới là những người duy trì truyền thống chứ không phải các thế hệ lớn tuổi.

*Dữ liệu được thu thập trực tuyến từ ngày 1 đến ngày 21 tháng 8 năm 2017 sử dụng nhóm tham luận của YouGov với trên 5 triệu người trên toàn thế giới. Dữ liệu này được cân nhắc là đại diện của dân số trực tuyến. Quy mô mẫu: Châu Á - Thái Bình Dương (n = 9.241; Úc: 921; Trung Quốc: 1.014; Hồng Kông: 1.019; Indonesia: 1.072; Malaysia: 1.092; Philippines: 1.047; Singapore: 1.044; Thái Lan: 1.019; Việt Nam: 1.013)