Ai là người lười nhất ở Châu Á - Thái Bình Dương?

Ai là người lười nhất ở Châu Á - Thái Bình Dương?
qua

Nghiên cứu mới đây cho thấy xu hướng nhìn nhận bản thân là người lười biếng trong công việc ở thế hệ thiên niên kỷ cao gấp bốn lần so với thế hệ thời bùng nổ dân số 

Làm việc, làm việc, làm việc. Dường như tất cả những gì chúng ta từng làm chỉ là làm việc. Theo nghiên cứu mới đây nhất của công ty nghiên cứu trực tuyến hàng đầu thế giới YouGov, điều này có thể là do chúng ta muốn như vậy. Gần ba phần tư số cư dân mạng ở Châu Á - Thái Bình Dương (71%) mô tả bản thân là người làm việc chăm chỉ và chỉ có 13% nhìn nhận bản thân họ là người lười biếng.

Cư dân Hồng Kông có xu hướng nhìn nhận rằng trong công việc họ là những người lười biếng cao hơn so với những người trả lời khảo sát đến từ các quốc gia khác thuộc Châu Á - Thái Bình Dương, với gần một phần tư (24%) số người trả lời như vậy. Trái lại, người Úc có xu hướng coi mình là người chăm chỉ ở mức cao nhất trong số tất cả những người tham gia trả lời khảo sát trong khu vực; bốn phần năm số người trả lời (79%) tin rằng họ là những người chăm chỉ tại nơi làm việc.

Định kiến cho rằng thế hệ thiên niên kỷ là những người lười biếng dường như được khẳng định khi chính bản thân họ cũng thừa nhận điều này; tỷ lệ nhóm người trẻ tuổi có xu hướng miêu tả bản thân là người lười làm việc cao gấp bốn lần. Trong khi một phần năm (19%) số người trong độ tuổi từ 16 đến 24 thú nhận mình lười biếng trong công việc thì chỉ có 5% số người trên 55 tuổi tin rằng họ là những người lười.

Một phần ba số cư dân Châu Á - Thái Bình Dương tự nhận mình lười hoạt động thể chất

Tuy nhiên, khi bàn đến hoạt động thể chất, số người thú nhận mình lười biếng tăng vọt lên đến 31%. Trong khi người Hồng Kông tiếp tục thiên về xu hướng tự nhận mình lười biếng (44%) với tỷ lệ cao hơn so với cư dân các quốc gia khác trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương thì lần này số người Indonesia cho mình là chăm chỉ chiếm tỷ lệ cao nhất (70%).

Dường như có sự phân hóa về giới tính trong cách hai giới nhìn nhận về mức độ hoạt động thể chất của họ. Phụ nữ có xu hướng nhìn nhận mình lười biếng cao hơn với 36% số người được khảo sát đưa ra ý kiến này (trong khi ở nam giới tỷ lệ chỉ là 27%).

51% nam giới thích đi bộ 1 km hơn là lái xe/đi xe công cộng

Phụ nữ cũng tỏ ra lười biếng hơn khi đưa ra lựa chọn về cách di chuyển quãng đường dài 1 km. Khi được yêu cầu lựa chọn giữa cách đi bộ hoặc lái xe/đi xe công cộng để di chuyển hết quãng đường này, chưa đến một phần hai số phụ nữ (44%) trả lời rằng họ thích đi bộ. Trong khi tỷ lệ ở nam giới là 51%.

Câu trả lời dành cho câu hỏi này cho thấy xét về độ lười biếng, thực ra, người Hồng Kông còn kém xa người dân các nước khác trong khu vực. Mặc dù có xu hướng tự nhận mình là người lười biếng ở mức cao nhất trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương nhưng người Hồng Kông có tỷ lệ lựa chọn lái xe/đi xe công cộng thấp nhất (32%). Thay vào đó, những người muốn tránh việc đi bộ 1 km là cư dân của Malaysia, Thái Lan và Việt Nam với các tỷ lệ lần lượt là 48%, 46% và 45% người muốn đi xe công cộng hoặc lái xe.

Phần lớn người trả lời khảo sát thích đi cầu thang bộ hơn so với thang máy... nếu họ chỉ phải leo dưới năm tầng

YouGov đã kiểm tra mức độ lười biếng của cư dân mạng bằng cách thăm dò định mức mà họ sẽ muốn chuyển sang dùng thang máy thay cho cầu thang bộ. Tuy 92% số người trả lời khảo sát nói rằng họ sẽ chọn cầu thang bộ hơn là thang máy để đi lên một tầng nhưng có đến gần hai phần ba số người được khảo sát (63%) thú nhận rằng họ đã từng làm như vậy.

Năm tầng là điểm định mức khiến phần lớn mọi người chuyển sang lựa chọn thang máy. Hơn bốn phần năm số người được khảo sát (83%) sẽ lựa chọn thang máy ở điểm định mức này. Con số này cao gần gấp hai lần tỷ lệ người chọn dùng thang máy để di chuyển ba tầng (46%).

 

*Dữ liệu được thu thập trực tuyến từ ngày 11 đến ngày 19 tháng 4 năm 2017 sử dụng nhóm tham luận của YouGov với trên 5 triệu người trên toàn thế giới. Dữ liệu này được cân nhắc là đại diện của dân số trực tuyến ở mỗi quốc gia. Quy mô mẫu: Châu Á - Thái Bình Dương (n = 9.468; Úc: 1.000; Hồng Kông: 1.011; Indonesia: 1.283; Malaysia: 1.772; Philippines: 1.162; Singapore: 1.049; Thái Lan: 1.191; Việt Nam: 1.000)